Trang chủ

Trường học trên địa bàn

Những điểm mới của Luật trẻ em
Ngày đăng 16/06/2017 | 02:56 | Lượt xem: 389

 

Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Quan điểm này cũng được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, từ Hiến pháp năm 1946,1959,1980,1992 và Hiến pháp năm 2013.

Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở khu vực châu Á phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em từ năm 1990 mà không bảo lưu điều, khoản nào.

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua lần đầu tiên vào năm 1991, sau đó sửa đổi, bổ sung năm 2004. Sau hơn 10 năm thực hiện, bên cạnh những thành tựu đạt được, Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập và đặt ra yêu cầu giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong đời sống xã hội. Ngày 05-4-2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Trẻ em với nhiều điểm mới. Luật gồm 7 chương với 106 điều, có hiệu lực thi hành từ 01-6-2017- đây cũng đồng thời là Ngày Quốc tế thiếu nhi và trùng với Tháng hành động vì trẻ em năm 2017.

1.  Thay đổi ngay từ tên gọi

 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trước đây nay được đổi tên thành "Luật Trẻ em". Sự thay đổi về tên gọi này vừa ngắn gọn vừa phản ánh đầy đủ, bao quát hơn nội dung và phạm vi điều chỉnh của Luật về đối tượng đặc thù là trẻ em.

2.  Nhiều thay đổi về nội dung

Luật Trẻ em có số lượng các điều, khoản tăng hơn so với Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Cụ thể Luật Trẻ em gồm 7 chương (tăng thêm 2 chương) và 106 điều (tăng thêm 46 điều).

Với quy định "trẻ em là người dưới 16 tuổi", Luật không giới hạn trẻ em là công dân Việt Nam, mà đối tượng áp dụng của Luật còn bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài cư trú tại việt Nam.

Ngoài các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nêu trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Trẻ em quy định thêm các nhóm khác như: Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; trẻ em bị bóc lột; trẻ em bị mua bán; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc.

Các hành vi bị nghiêm cấm cũng được quy định bổ sung, như: Tước đoạt quyền sống của trẻ em; tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn; cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình; công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em; không thực hiện trách nhiệm hỗ trợ trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm.

Luật cũng quy định "Khi xây dựng chính sách, pháp luật tác động đến trẻ em, phải xem xét ý kiến của trẻ em và của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương. Việc ưu tiên nguồn lực để thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em, bao gồm cả nguồn tài chính, nguồn nhân lực và Tháng hành động vì trẻ em vào tháng 6 hằng năm cũng được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em để thúc đẩy phong trào toàn dân chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.

3.  Các quyền và bổn phận của trẻ em

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Luật Trẻ em quy định 25 nhóm quyền của trẻ em như quyền sống; quyền bí mật đời sống riêng tư; quyền được sống chung với cha, mẹ; quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi; quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột sức lao động, không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, không bị mua, bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạn; quyền được đảm bảo an sinh xã hội; quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội …

Các bổn phận của trẻ em đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về quyền con người; quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong thời đại mới.

4. Bảo đảm thực hiện chăm sóc và giáo dục trẻ em

Luật Trẻ em quy định tổng quát về chính sách của nhà nước để bảo đảm về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bảo đảm điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch và thông tin, truyền thông cho trẻ em. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng, thực hiện các chính sách về quyền trẻ em trong thực tế.

5.  Bảo vệ trẻ em

Luật Trẻ em quy định cụ thể các nội dung về các cấp độ bảo vệ trẻ em (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) và trách nhiệm thực hiện; cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; chăm sóc thay thế; các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.
Các biện pháp phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp được quy định cụ thể, cùng với trách nhiệm thực hiện của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc bảo vệ trẻ em. Luật quy định các loại hình cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ở cả ba cấp độ, không chỉ dừng lại ở việc can thiệp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tại Điều 53 của Luật Trẻ em quy định cụ thể trách nhiệm của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã.

Quy định về chăm sóc thay thế nhằm đảm bảo trẻ em được sống trong môi trường gia đình và được chăm sóc thay thế khi không có môi trường gia đình hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Tại mục 4 Chương IV của Luật Trẻ em quy định các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Nội dung này được xây dựng trên cơ sở hệ thống hóa các nguyên tắc áp dụng đối với người chưa thành niên trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành, đồng thời bổ sung các nguyên tắc được quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các điều ước quốc tế về tư pháp đối với trẻ em mà Việt Nam là thành viên.

6.  Sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em

Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Trẻ em nêu tại Chương V nhằm thể chế hóa quy định tại khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, "trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em". Chương này quy định nội dung, phạm vi, hình thức trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em và biện pháp bảo đảm trong gia đình, nhà trường, cơ sở giáo dục khác và trong cộng đồng.

Để cơ chế giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em được khả thi và hiệu quả, Luật Trẻ em quy định cụ thể nhiệm vụ của tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em là Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

7.  Chung tay bảo vệ trẻ em của cá nhân, gia đình và xã hội

Luật Trẻ em quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và đặc biệt quy định trách nhiệm của gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục.

Công tác trẻ em liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương, do đó Luật Trẻ em quy định về Tổ chức phối hợp liên ngành về trẻ em để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, điều hòa các hoạt động nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình thực hiện quyền trẻ em giữa các cơ quan ở Trung ương, các tổ chức, các địa phương. Có thể nói, với việc ban hành Luật Trẻ em, đã thể chế hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong tình hình mới. Việc thực hiện Luật Trẻ em không chỉ là sự cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà còn thể hiện sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em, đặc biệt về bảo vệ trẻ em thời kỳ hội nhập quốc tế, hài hòa các quyền trẻ em và các điều ước quốc tế khác có liên quan khác./.